
Viettel Group: Corporate Profile and Investability Estimate
July 10, 2026
Founder Notes — Lotus Investment Group
Ngân hàng Việt Nam thấp hơn các nước láng giềng 8 điểm phần trăm, còn nguồn vốn rẻ nhất bị chặn ở mức 30%
Vietnam’s Banks Sit Eight Points Below Their Neighbours, and the Cheapest Capital Is Capped at 30%
Chúng tôi nhận thấy ràng buộc quyết định đối với việc tái cấp vốn cho các ngân hàng Việt Nam không phải là khẩu vị của vốn ngoại, mà là sự tương tác giữa một chuẩn vốn đang được nâng lên với trần sở hữu nước ngoài tổng hợp 30%.
12,5%
CAR toàn hệ thống cuối 2024, thấp hơn trung bình ASEAN 20,5% khoảng 8 điểm phần trăm và thuộc nhóm 5 thấp nhất trong 112 nền kinh tế (IMF).
30%
Vốn chiến lược nước ngoài bị giới hạn ở 30% vốn điều lệ và gần cạn ở các ngân hàng cổ phần tư nhân lớn nhất.
21/9/2026
Nâng hạng FTSE mang cầu vốn ngoại đến đúng những ngân hàng đã cạn room, phần tái cấp vốn buộc phải huy động trong nước.
Cuối năm 2024, tỷ lệ an toàn vốn của toàn hệ thống là 12,5%, thấp hơn khoảng 8 điểm phần trăm so với mức bình quân ASEAN 20,5% và nằm trong nhóm 5 nước thấp nhất trong 112 quốc gia theo dữ liệu IMF, với nhóm ngân hàng quốc doanh ở mức 10,4-10,6%, chỉ vừa lọt vào bên trong mức sàn 10,5% mà các bộ đệm vốn Basel III áp đặt từ năm 2030.
Bởi vốn chiến lược nước ngoài bị chặn ở 30% vốn điều lệ và đã cạn ở các ngân hàng tư nhân lớn nhất, phần lớn lượng vốn cần huy động phải đến từ trong nước, ngay cả khi đợt nâng hạng FTSE vào tháng 9/2026 mang tới lực cầu nước ngoài mà các ngân hàng đã kịch trần không thể hấp thụ về mặt pháp lý.

Bộ đệm vốn mỏng nhất Đông Nam Á
Chúng tôi ghi nhận một vị thế vốn mỏng khi soi vào mọi thước đo bên ngoài, cùng một chính sách chặn lại cách rẻ nhất để làm nó dày lên. Cuối tháng 11/2024, tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống ngân hàng Việt Nam là 12,51%, với nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh ở mức 10,57%, ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân 12,21%, và ngân hàng có vốn nước ngoài 23,27% (Ngân hàng Nhà nước, qua VCCI 2025). Báo cáo tham vấn Điều IV 2025 của IMF đặt nhóm ngân hàng công ở mức 10,4% và ngân hàng tư ở mức 12,1% theo định nghĩa riêng của mình (IMF 2025). Không cách đọc nào là dễ chịu. Đặt cạnh các nước láng giềng, mức 12,5% của Việt Nam là thấp nhất trong 7 hệ thống ASEAN và thấp hơn khoảng 8 điểm phần trăm so với mức bình quân khu vực 20,5%, khi Indonesia báo cáo 26,8%, Campuchia 22,3%, Thái Lan 20,4%, Malaysia 18,6% và Philippines 16,5% (VNDIRECT/CEIC 2025). IMF xếp tỷ lệ tổng hợp của Việt Nam vào nhóm 5 nước thấp nhất trong 112 quốc gia theo bộ chỉ số Lành mạnh Tài chính, và lưu ý rằng các ngân hàng Việt Nam phần lớn áp dụng định nghĩa vốn theo phương pháp tiêu chuẩn Basel II, kém nghiêm ngặt hơn Basel III, nên khả năng thực sự để hấp thụ một cú sốc còn mỏng hơn cả con số công bố (IMF 2025).
Việc các ngân hàng có vốn nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam giữ tỷ lệ 23,27% cho thấy độ mỏng ấy không phải là đặc tính cấu trúc của thị trường. Nó là đặc tính của việc ai đã có thể huy động được vốn.

Ngưỡng đang được nâng lên trong khi bộ đệm bị bào mòn
Chuẩn mực mà các ngân hàng trong nước phải vượt qua đang được nâng lên. Thông tư 41/2016 đặt tỷ lệ tối thiểu ở 8% theo phương pháp tiêu chuẩn Basel II, hiệu lực từ tháng 1/2020, với tỷ lệ được cấu thành từ rủi ro tín dụng và rủi ro hoạt động cùng với rủi ro thị trường (Ngân hàng Nhà nước 2016; DIV 2017). Thông tư 14/2025, ban hành ngày 30/6/2025 và có hiệu lực từ 15/9/2025, luật hóa Basel III, với ngưỡng vốn chủ sở hữu cấp 1 lõi (CET1) 4,5%, ngưỡng vốn cấp 1 là 6%, mức tối thiểu tổng 8%, và một bộ đệm bảo toàn vốn tăng dần 0,625 điểm mỗi năm lên 2,5% (Ngân hàng Nhà nước 2025; VCCI 2025). Đến năm 2030, riêng bộ đệm bảo toàn đã nâng tỷ lệ yêu cầu lên 10,5%, và một bộ đệm phản chu kỳ tối đa 2,5% có thể đẩy yêu cầu thực tế lên gần 13% (VCCI 2025; VDSC qua Vietnambiz 2025). Thông tư 41 bị bãi bỏ hoàn toàn kể từ 1/1/2030 (Ngân hàng Nhà nước 2025).
Biểu đồ 2 đặt các nhóm ngân hàng trong nước cạnh dải yêu cầu sắp tới đó. Ngân hàng quốc doanh và tư nhân tụ lại trong khoảng 10,4% đến 12,5% — cao hơn mức sàn 8% mà họ đối mặt hôm nay, nhưng chỉ nằm ngay trong hoặc vừa chạm dải 10,5-13% mà các bộ đệm sẽ định ra. Bộ đệm bị bào mòn ngay khi đang được dựng. Tín dụng chạm 136% GDP năm 2024 và tăng 15% trong năm đó rồi 19% so với cùng kỳ vào tháng 6/2025, với chênh lệch tín dụng trên GDP ở mức dương trong năm 2024 (IMF 2025). Tín dụng tăng nhanh thổi phồng tài sản có rủi ro (RWA), mẫu số của tỷ lệ, và khảo sát tháng 8-9/2025 của chính Ngân hàng Nhà nước cho thấy phần lớn ngân hàng chứng kiến tỷ lệ vốn giảm so với cuối năm 2024 khi cho vay tăng lên, với tín dụng toàn hệ thống tăng 14,77% tính đến cuối tháng 10 (VNDIRECT 2025). Cùng lúc đó, nguồn nguyên liệu rẻ nhất của tử số đang co lại, bởi biên lãi ròng (NIM) đã giảm từ 3,5% năm 2024 xuống 2,9% trong năm tài chính 2025, nên lợi nhuận giữ lại bồi đắp vốn chậm hơn (FiinRatings 2026).

Hai nhóm chạm mức sàn từ hai hướng ngược nhau
Các quỹ đạo gần đây không kể một câu chuyện cải thiện đơn giản. FiinRatings đặt tỷ lệ trung vị của nhóm ngân hàng quốc doanh ở 9,2% năm 2023, tăng lên 10,7% vào nửa đầu năm 2025, nhưng chủ yếu nhờ nợ thứ cấp thuộc vốn cấp 2 (Tier-2), loại vốn được tính vào tỷ lệ tổng chứ không vào phần lõi vốn chủ sở hữu mà mức sàn 4,5% của Basel III kiểm định, và bị khấu trừ dần khỏi diện đủ điều kiện khi gần đáo hạn (FiinRatings 2026). Nhóm 4 ngân hàng cổ phần lớn nhất đi theo hướng ngược lại, từ trung vị 13,9% năm 2022 xuống 12,7% vào nửa đầu năm 2025, khi tăng trưởng tài sản có rủi ro vượt tốc độ bồi vốn (FiinRatings 2026). Chính tiêu đề FiinRatings đặt trên biểu đồ viết rằng ràng buộc vốn vẫn là thách thức nghiêm trọng đối với toàn ngành.
Ước lượng quy mô nhiệm vụ huy động vốn dễ hơn khi nhìn lại lịch sử so với hiện tại. Trước hạn chót Basel II năm 2020, Fitch ước tính mức thiếu hụt toàn hệ thống gần 20 tỷ USD, khoảng 9% GDP, và ước rằng các ngân hàng do hãng xếp hạng cần 4,1 tỷ USD với giả định vốn cấp 1 tối thiểu 8%, tăng lên tới 6,5 tỷ USD nếu tỷ lệ bao phủ nợ xấu được nâng lên 5,0% dư nợ gộp từ mức 2,3%, và rằng Basel II làm tăng tài sản có rủi ro bình quân thêm 42% (Fitch, qua Vietnam News 2018). Con số đó có trước chu kỳ hiện tại và các định nghĩa chặt hơn của Basel III, và chúng tôi dùng nó như một mốc tham chiếu về cấp độ, không phải ước tính đang hiện hành, bởi chưa có con số thiếu hụt toàn hệ thống nào có thẩm quyền tương đương được công bố cho giai đoạn chuyển tiếp Thông tư 14. Dù vậy, chiều hướng thì rõ ràng. Nợ xấu nội bảng ở mức 5,3% vào tháng 3/2025 so với 2,3% năm 2022, cùng tỷ lệ cho vay trên huy động vượt 100%, khiến IMF kết luận rằng ưu tiên là củng cố thanh khoản và bộ đệm vốn của các ngân hàng (IMF 2025).

Nguồn vốn bên ngoài rẻ nhất bị chặn, và dư địa đã cạn đúng ở nơi cần nhất
Vốn cổ phần bên ngoài là cách nhanh nhất để nâng một tỷ lệ vốn lõi, và nguồn dồi dào nhất của nó là vốn chiến lược nước ngoài, thứ mà luật Việt Nam giới hạn. Nghị định 01/2014 đặt ra bốn ngưỡng, gồm một cá nhân nước ngoài 5%, một tổ chức nước ngoài 15%, một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài 20%, và toàn bộ nhà đầu tư nước ngoài cộng lại 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại (Chính phủ Việt Nam 2014). Nghị định 69/2025, hiệu lực từ 19/5/2025, nâng trần tổng hợp lên 49% cho ba ngân hàng tư nhân đã đồng ý tiếp nhận một tổ chức tín dụng yếu kém (MB, HDBank, VPBank), trong khi các ngân hàng do nhà nước nắm trên 50% vẫn bị loại trừ (Chính phủ Việt Nam 2025). Mọi thương vụ chiến lược đã hoàn tất đều là bằng chứng rằng chính cái trần, chứ không phải khẩu vị, mới là ranh giới quyết định. Mizuho dừng ở 15% Vietcombank, MUFG ở 20% VietinBank, KEB Hana ở 15% BIDV và SMBC ở 15% VPBank, mỗi bên mua đều chốt ở mức tối đa mà nhóm của mình được phép (Bloomberg 2011; AFP 2012; BIDV 2019; Vietnam News 2023).
Dư địa nhỏ nhất lại nằm đúng ở nơi cần vốn nhất. Tính đến cuối tháng 6/2026, MBBank và Techcombank chỉ còn khoảng 1 điểm phần trăm dư địa sở hữu nước ngoài dưới trần 30%, và VIB cũng gần như vậy, còn VietinBank do nhà nước chi phối còn khoảng 5 điểm và LienVietPostBank khoảng 4 điểm, cùng một nhóm vốn hóa trung bình (ACB, HDBank, VPBank, TPBank, Vietcombank) nằm trong dải 6-10% (CafeF 2026). VinaCapital ghi nhận cổ phiếu ngân hàng chiếm khoảng 40% VN-Index và giới hạn sở hữu 30% trên thực tế biến nhà đầu tư cá nhân trong nước thành người mua biên định giá cổ phiếu ngân hàng — một mức chiết khấu đẩy chi phí lên đúng phần vốn cổ phần nội địa vốn phải lấp khoảng trống (VinaCapital, qua The Investor 2025).

Đợt nâng hạng FTSE dẫn vốn ngoại đi vòng qua chính những ngân hàng cần nó
Việc tái phân loại thị trường làm nghịch lý càng sắc nét. FTSE Russell công bố ngày 7/10/2025 rằng Việt Nam chuyển từ nhóm thị trường Cận biên (Frontier) lên nhóm Mới nổi thứ cấp (Secondary Emerging), hiệu lực từ 21/9/2026, chia thành 4 đợt kéo dài đến tháng 9/2027 (FTSE Russell 2025; FTSE FAQ 2026). Ngân hàng Thế giới ước tính 3-5 tỷ USD vốn danh mục chảy vào trong những năm đầu và lên tới 25 tỷ USD vào năm 2030 nếu cải cách tiếp tục, còn Vietnam Briefing gán cho FTSE Russell con số khoảng 6 tỷ USD dòng vốn thụ động từ các quỹ mô phỏng chỉ số FTSE Emerging (World Bank 2026; Vietnam Briefing 2025). Tuy nhiên, FTSE sàng lọc chứng khoán Việt Nam theo dư địa sở hữu nước ngoài dưới bộ quy tắc trọng số khả năng đầu tư, nên một cổ phiếu gần chạm trần sở hữu sẽ bị giảm trọng số trong chỉ số — cái trần giới hạn bên mua chiến lược cũng giới hạn lượng vốn thụ động có thể chảy đến một ngân hàng đã kịch trần (FTSE FAQ 2026). Danh sách cổ phiếu đủ điều kiện minh họa điều này một cách cụ thể. Trong 23 mã Việt Nam được nêu cho rổ FTSE Global All Cap, chỉ 4 mã là ngân hàng. BIDV và Vietcombank đại diện cho nhóm vốn hóa lớn. Sacombank và SHB góp mặt trong nhóm vốn hóa nhỏ. Những cái tên đã kịch trần thì vắng bóng. Techcombank và MBBank không xuất hiện, VIB và ACB cũng vậy (FTSE FAQ 2026).
Điều này quan trọng vì Việt Nam tự huy động vốn thông qua ngân hàng. Giai đoạn 2019-2023, kênh ngân hàng huy động bình quân 53,5 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế, so với khoảng 2,9 tỷ USD từ thị trường cổ phiếu, chênh lệch gần 18 lần (World Bank 2026). Ngân hàng là cỗ máy huy động vốn của nền kinh tế, nhưng họ khó có thể tiếp cận kênh cổ phiếu đang được nâng hạng, bởi cái trần chặn lực cầu nước ngoài đối với cổ phiếu của họ. Đợt nâng hạng lẽ ra phải luân chuyển vốn toàn cầu vào ngân hàng Việt Nam lại được thiết kế để đẩy phần lớn dòng vốn đó đi nơi khác.
Phần số học còn lại đè lên bảng cân đối trong nước
Ghép các mảnh lại thì phần dư ra đã rõ, ngay cả khi không có một con số thiếu hụt toàn hệ thống duy nhất. Tỷ lệ yêu cầu đang tiến lên 10,5-13%, còn các nhóm ngân hàng trong nước nằm ở 10,4-12,5%; tăng trưởng tín dụng gần 19% thổi phồng mẫu số nhanh hơn tốc độ mà biên lãi đang co còn 2,9% có thể bồi lại tử số; phần vốn ngoại trong bất kỳ đợt phát hành cổ phần nào cũng bị chặn ở 30% và trên thực tế đã cạn ở các ngân hàng tư nhân lớn nhất; và đợt nâng hạng thị trường lẽ ra có thể làm sâu thêm lực cầu cổ phiếu lại được thiết kế để giảm trọng số những cái tên đã kịch trần. Phần lớn công cuộc tái cấp vốn vì thế đổ lên các nguồn trong nước — lợi nhuận giữ lại đang bị sức ép biên lãi bào mỏng, phát hành vốn cấp 2 vốn không được tính là vốn lõi, và các đợt phát hành riêng lẻ bị định giá bởi lớp nhà đầu tư cá nhân mà trần sở hữu đã biến thành người mua biên. Một đòn bẩy chính sách có thể mở rộng nguồn vốn cổ phần bên ngoài đúng nơi lực cầu FTSE đang tụ lại, và đó chính là cái trần 30%, nhưng việc nâng nó lại phụ thuộc vào ai kiểm soát hệ thống ngân hàng, một câu hỏi mà chính sách thị trường vốn không thể trả lời. Ngay cả Ngân hàng Thế giới cũng giữ khuyến nghị của mình ở mức định tính, đề nghị nhà chức trách khuyến khích các ngân hàng cải thiện tỷ lệ an toàn vốn và củng cố khung giám sát thay vì nêu một con số cụ thể (World Bank 2025). Cuộc tranh luận xem khẩu vị nước ngoài là yếu tố khan hiếm. Nhưng dữ liệu cho thấy yếu tố khan hiếm thực ra là dư địa pháp lý.
Ghi chú dữ liệu và giới hạn
Các tỷ lệ vốn theo nhóm ngân hàng lấy từ Ngân hàng Nhà nước tại thời điểm cuối tháng 11/2024, được công bố qua VCCI; báo cáo Điều IV 2025 của IMF đưa ra 10,4% và 12,1% cho nhóm ngân hàng công và tư theo một định nghĩa và mốc thời gian khác, và cả hai cách đọc đều được dẫn ra chứ không được điều hòa với nhau. So sánh ASEAN là của VNDIRECT, lấy từ CEIC, với số liệu khu vực tại tháng 12/2024 và Việt Nam tại tháng 11/2024. Các tỷ lệ của FiinRatings là trung vị cho nhóm quốc doanh và nhóm 4 ngân hàng cổ phần lớn nhất, không phải số tổng hợp toàn hệ thống, và về bản chất cách tính đã khác với số liệu bình quân của NHNN. Con số thiếu hụt của Fitch là ước tính năm 2018 trước Basel II, chỉ dùng làm mốc tham chiếu về cấp độ; chúng tôi không tìm thấy con số thiếu hụt toàn hệ thống nào được công bố cho giai đoạn chuyển tiếp Thông tư 14 và cũng không tự dựng ra một con số. Trọng số FTSE và danh sách cổ phiếu đủ điều kiện chỉ mang tính tham khảo, lấy từ tài liệu hỏi đáp tháng 4/2026 của FTSE Russell dựa trên dữ liệu ngày 31/12/2025, với danh sách cuối cùng dự kiến công bố ngày 21/8/2026; con số khoảng 6 tỷ USD vốn thụ động do Vietnam Briefing gán cho FTSE Russell, không lấy từ một tài liệu FTSE. Các con số dư địa sở hữu nước ngoài là số tại một thời điểm, ngày 24/6/2026, và với nhóm 6-10%, được báo cáo dưới dạng một khoảng mà không có giá trị cho từng ngân hàng. Kết luận rằng phần lớn ngân hàng chứng kiến tỷ lệ vốn giảm trong năm 2025 mang tính định tính trong nguồn, không có tỷ lệ phần trăm nào được công bố.
We find that the binding constraint on recapitalizing Vietnam’s banks is not the appetite of foreign capital but the interaction of a rising capital standard with a 30% aggregate foreign-ownership ceiling.
12.5%
System-wide CAR at end-2024, about eight points below the ASEAN average of 20.5% and among the five lowest of 112 economies (IMF).
30%
Foreign strategic capital is capped at 30% of charter capital and already near-exhausted at the largest private banks.
21 Sep 2026
The FTSE upgrade brings foreign demand to exactly the banks whose room is gone — the recapitalization must be raised at home.
At end-2024 the system’s capital-adequacy ratio was 12.5%, roughly eight percentage points below the ASEAN average of 20.5% and among the five lowest of 112 countries in IMF data, with state-owned banks at 10.4-10.6%, barely inside the 10.5% floor that Basel III buffers impose from 2030.
Because foreign strategic capital is capped at 30% of charter capital and already exhausted at the largest private banks, most of the required capital must be raised at home, even as the September 2026 FTSE upgrade brings foreign demand the capped banks legally cannot absorb.

Southeast Asia’s thinnest capital cushion
We document a capital position that is thin against every external benchmark, and a policy that caps the cheapest way to thicken it. At end-November 2024 the Vietnamese banking system’s capital-adequacy ratio was 12.51%, with state-owned commercial banks at 10.57%, private joint-stock banks at 12.21%, and foreign-owned banks at 23.27% (State Bank of Vietnam, via VCCI 2025). The IMF’s 2025 Article IV consultation puts public banks at 10.4% and private banks at 12.1% on its own definition (IMF 2025). Neither reading is comfortable. Placed beside its neighbours, Vietnam’s 12.5% is the lowest of seven ASEAN systems and sits about eight percentage points below the regional average of 20.5%; Indonesia reports 26.8%, Cambodia 22.3%, Thailand 20.4%, Malaysia 18.6% and the Philippines 16.5% (VNDIRECT/CEIC 2025). The IMF ranks Vietnam’s aggregate ratio among the lowest five of 112 countries in its Financial Soundness Indicators, and notes that Vietnamese banks largely apply Basel II standardized definitions of capital, less strict than Basel III, so the true capacity to absorb a shock is thinner still than the headline suggests (IMF 2025).
That the foreign-owned banks operating in Vietnam hold 23.27% shows the thinness is not a structural feature of the market. It is a feature of who has been able to raise capital.

The bar is rising while the buffer is being eaten
The standard the domestic banks must clear is moving up. Circular 41/2016 set the minimum ratio at 8% on a Basel II standardized basis, effective January 2020, with the ratio built from credit and operational risk together with market risk (State Bank of Vietnam 2016; DIV 2017). Circular 14/2025, issued 30 June 2025 and effective 15 September 2025, writes Basel III into law: a common-equity Tier-1 floor of 4.5%, a Tier-1 floor of 6%, an 8% total minimum, and a capital-conservation buffer that accretes 0.625 point a year to 2.5% (State Bank of Vietnam 2025; VCCI 2025). By 2030 the conservation buffer alone lifts the required ratio to 10.5%, and a countercyclical buffer of up to 2.5% can push the effective requirement toward 13% (VCCI 2025; VDSC via Vietnambiz 2025). Circular 41 is repealed outright from 1 January 2030 (State Bank of Vietnam 2025).
Chart 2 places the domestic groups against that coming band. State and private banks cluster between 10.4% and 12.5% — above the 8% floor they face today, but at or barely inside the 10.5-13% band the buffers will define. The buffer is being consumed as it is built. Credit reached 136% of GDP in 2024 and grew 15% that year and 19% year-on-year by June 2025, with the credit-to-GDP gap positive in 2024 (IMF 2025). Fast credit inflates risk-weighted assets, the denominator of the ratio; the State Bank’s own August-September 2025 survey found that a majority of banks saw their capital ratio fall against end-2024 as lending grew, with system credit up 14.77% by late October (VNDIRECT 2025). At the same time the numerator’s cheapest feedstock is shrinking, because net interest margin compressed from 3.5% in 2024 to 2.9% in the 2025 financial year, so retained earnings rebuild capital more slowly (FiinRatings 2026).

Two groups reach the floor from opposite directions
Recent trajectories do not tell a simple story of improvement. FiinRatings puts the median state-owned-bank ratio at 9.2% in 2023, rising to 10.7% by the first half of 2025, but mainly through Tier-2 subordinated debt, which counts toward the total ratio and not toward the common-equity core that Basel III’s 4.5% floor tests, and which amortises out of eligibility as it nears maturity (FiinRatings 2026). The top-four joint-stock banks moved the other way, from a median 13.9% in 2022 to 12.7% in the first half of 2025, as risk-weighted-asset growth outpaced the capital build (FiinRatings 2026). FiinRatings’ own header on the exhibit reads that capital constraint remains a critical challenge for the sector.
Sizing the raising task is easier historically than currently. Ahead of the 2020 Basel II deadline, Fitch put the system-wide shortfall at close to US$20 billion, about 9% of GDP, estimating that its own rated banks needed US$4.1 billion on a minimum 8% Tier-1 assumption, rising toward US$6.5 billion if loan-loss coverage were lifted to 5.0% of gross loans from 2.3%, and that Basel II raised average risk-weighted assets by 42% (Fitch, via Vietnam News 2018). That figure predates the current cycle and the tighter Basel III definitions, and we use it as an order-of-magnitude marker, not a live estimate, because no comparably authoritative system-wide gap for the Circular 14 transition has been published. Direction, though, is unambiguous. Non-performing loans at 5.3% on the balance sheet in March 2025 against 2.3% in 2022, and a loan-to-deposit ratio above 100%, leave the IMF concluding that the priority is to build banks’ liquidity and capital buffers (IMF 2025).

The cheapest external capital is capped, and the room is gone where it matters
External equity is the fastest way to lift a core ratio, and the deepest pool of it is foreign strategic capital, which Vietnamese law caps. Decree 01/2014 sets four thresholds: a single foreign individual at 5%, a foreign institution at 15%, a foreign strategic investor at 20%, and all foreign investors combined at 30% of a commercial bank’s charter capital (Government of Vietnam 2014). Decree 69/2025, effective 19 May 2025, lifts the aggregate ceiling to 49% for the three private banks that agreed to absorb a failed lender (MB, HDBank, VPBank), while banks the state controls above 50% stay excluded (Government of Vietnam 2025). Every completed strategic deal reads as confirmation that the ceiling, not appetite, is the binding line. Mizuho stopped at 15% of Vietcombank, MUFG at 20% of VietinBank, KEB Hana at 15% of BIDV and SMBC at 15% of VPBank, each buyer settling at the maximum its category allowed (Bloomberg 2011; AFP 2012; BIDV 2019; Vietnam News 2023).
Room is smallest where capital is most needed. As of late June 2026, MBBank and Techcombank had about one percentage point of foreign room left under the 30% cap, and VIB much the same; state-controlled VietinBank held about five points and LienVietPostBank about four, with a mid-cap cluster (ACB, HDBank, VPBank, TPBank, Vietcombank) sitting in a 6-10% band (CafeF 2026). VinaCapital observes that bank stocks make up about 40% of the VN-Index and that the 30% ownership limit effectively makes local retail investors the marginal buyers who set bank-share prices — a discount that raises the cost of exactly the domestic equity that must fill the gap (VinaCapital, via The Investor 2025).

The FTSE upgrade routes foreign capital around the banks that need it
Market reclassification sharpens the paradox. FTSE Russell announced on 7 October 2025 that Vietnam moves from Frontier to Secondary Emerging status, effective 21 September 2026, phased across four tranches to September 2027 (FTSE Russell 2025; FTSE FAQ 2026). The World Bank estimates US$3-5 billion of portfolio inflows in the first years and up to US$25 billion by 2030 with continued reform, and Vietnam Briefing attributes roughly US$6 billion of passive inflow from FTSE Emerging trackers to FTSE Russell (World Bank 2026; Vietnam Briefing 2025). Yet FTSE screens Vietnamese securities for foreign headroom under its investability-weights rules, so a stock near its ownership cap is down-weighted in the index — the ceiling that limits strategic buyers also limits how much passive money can reach a capped bank (FTSE FAQ 2026). The eligible-stock list makes the point concretely. Of 23 Vietnamese names indicated for the FTSE Global All Cap, only four are banks. BIDV and Vietcombank represent the large caps. Sacombank and SHB stand in among the small caps. The capped names are missing. Techcombank and MBBank do not appear, nor do VIB and ACB (FTSE FAQ 2026).
This matters because Vietnam funds itself through banks. Between 2019 and 2023 the banking channel raised an average of US$53.5 billion a year for the economy against about US$2.9 billion from the equity market, a roughly eighteen-fold gap (World Bank 2026). The banks are the economy’s capital-raising engine, yet they cannot easily tap the equity channel being upgraded, because the ceiling caps the foreign bid for their shares. The upgrade that should recycle global capital into Vietnamese banks is built to route much of it elsewhere.
What the arithmetic leaves on domestic balance sheets
Put the pieces together and the residual is clear even without a single system-wide gap number. The required ratio is rising toward 10.5-13%; the domestic groups sit at 10.4-12.5%; credit growth near 19% inflates the denominator faster than a compressing 2.9% margin can rebuild the numerator; the foreign share of any equity raise is capped at 30% and effectively exhausted at the largest private banks; and the market upgrade that could deepen the equity bid is engineered to under-weight the capped names. The majority of the recapitalization therefore falls on domestic sources — retained earnings that the margin squeeze is thinning, Tier-2 issuance that does not count as core capital, and private placements priced by a retail base the ownership cap has made the marginal buyer. One policy lever would widen the external-equity pool exactly where the FTSE bid is pooling, and that is the 30% ceiling itself, but raising it turns on who controls the banking system, a question capital-market policy cannot answer. Even the World Bank keeps its own recommendation qualitative, urging the authorities to encourage banks to improve capital-adequacy ratios and strengthen the supervisory framework rather than naming a figure (World Bank 2025). The debate treats foreign appetite as the scarce input. The data say the scarce input is legal room.
Data notes and limits
Capital ratios by bank group come from the State Bank of Vietnam at end-November 2024 as reported through VCCI; the IMF’s 2025 Article IV gives 10.4% and 12.1% for public and private banks on a different definition and reference date, and both are cited rather than reconciled. The ASEAN comparison is VNDIRECT’s, drawn from CEIC, with regional figures at December 2024 and Vietnam at November 2024. FiinRatings’ ratios are medians for the state-owned and top-four joint-stock groups, not system aggregates, and differ from the mean-based NHNN figures by construction. The Fitch shortfall is a 2018 pre-Basel-II estimate used only as an order-of-magnitude marker; we found no published system-wide gap for the Circular 14 transition and have not manufactured one. FTSE weights and the eligible-stock list are indicative, drawn from FTSE Russell’s April 2026 FAQ against 31 December 2025 data, with the final list due 21 August 2026; the roughly US$6 billion passive figure is attributed to FTSE Russell by Vietnam Briefing, not taken from an FTSE document. Foreign-room figures are point-in-time at 24 June 2026 and, for the 6-10% cluster, reported as a range without per-bank values. The finding that a majority of banks saw their ratio fall in 2025 is qualitative in the source, with no percentage published.
Nguồn / Sources
[1]
State Bank of Vietnam data reported via VCCI / Thoi bao Tai chinh, ‘Ngan hang truoc cuoc dua nang chuan an toan von’ — https://vcci.com.vn/tin-tuc/ngan-hang-truoc-cuoc-dua-nang-chuan-an-toan-von
[2]
IMF, Vietnam 2025 Article IV Consultation, Staff Report (Country Report No. 25/283) — https://www.imf.org/en/publications/cr/issues/2025/10/03/vietnam-2025-article-iv-consultation-press-release-staff-report-and-statement-by-the-executive-director-for-vietnam-570895
[3]
VNDIRECT Research, Vietnam Banking Sector report (2 Dec 2025), from CEIC — http://static1.vietstock.vn/edocs/Files/2025/12/04/bao-cao-nganh-ngan-hang-cach-mang-trong-quan-tri-rui-ro-truoc-suc-nong-tang-truong-tin-dung_20251204101655.pdf
[4]
IMF Country Report No. 25/283, Vietnam 2025 Article IV Staff Report, Annex VI (Macroprudential Toolkit) — https://www.imf.org/-/media/files/publications/cr/2025/english/1vnmea2025001-source-pdf.pdf
[5]
Thong tu 41/2016/TT-NHNN, full text (LuatVietnam) — https://luatvietnam.vn/tai-chinh/thong-tu-41-2016-tt-nhnn-ngan-hang-nha-nuoc-viet-nam-111599-d1.html
[6]
Deposit Insurance of Vietnam (DIV), note on Circular 41/2016/TT-NHNN (16 Jan 2017) — https://div.gov.vn/ngan-hang-phai-thuong-xuyen-duy-tri-ty-le-an-toan-von-toi-thieu-8-
[7]
Tap chi Ngan hang (State Bank of Vietnam organ) on Circular 14/2025/TT-NHNN — https://tapchinganhang.gov.vn/chuan-hoa-ty-le-an-toan-von-buoc-tien-moi-trong-quan-ly-rui-ro-va-nang-cao-suc-chong-chiu-cua-he-thong-ngan-hang-16379.html
[8]
Vietnambiz, citing Rong Viet Securities (VDSC) analysis of Circular 14/2025 (Sep 2025) — https://vietnambiz.vn/nhom-ngan-hang-doi-mat-ap-luc-ve-von-khi-ap-dung-thong-tu-14-2025923142356142.htm
[9]
IMF, Vietnam 2025 Article IV Staff Report, Recent Developments (via IMF eLibrary) — https://www.elibrary.imf.org/view/journals/002/2025/283/article-A001-en.xml
[10]
VNDIRECT Research, Vietnam Banking Sector report (2 Dec 2025), pp.5 and 9 — http://static1.vietstock.vn/edocs/Files/2025/12/04/bao-cao-nganh-ngan-hang-cach-mang-trong-quan-tri-rui-ro-truoc-suc-nong-tang-truong-tin-dung_20251204101655.pdf
[11]
FiinRatings, ‘Vietnam Banking Sector: FY2025 recap and 2026 outlook’, Key Highlights (13 Apr 2026) — https://fiinratings.vn/Data/2026/Report/FiinRatings_Vietnam-Banking-2026-Outlook.pdf
[12]
FiinRatings, Vietnam Banking Sector 2026 Outlook, Exhibit 06 (p.9) — https://fiinratings.vn/Data/2026/Report/FiinRatings_Vietnam-Banking-2026-Outlook.pdf
[13]
Fitch Ratings (2018), via Vietnam News — https://vietnamnews.vn/economy/465317/vn-banks-have-large-capital-needs-ahead-of-basel-ii-fitch-ratings.html
[14]
IMF, Vietnam 2025 Article IV Staff Report (Country Report No. 2025/283) — https://www.imf.org/-/media/files/publications/cr/2025/english/1vnmea2025001-source-pdf.pdf
[15]
Nghi dinh 01/2014/ND-CP, Article 7 (LuatVietnam) — https://luatvietnam.vn/tai-chinh/nghi-dinh-01-2014-nd-cp-chinh-phu-83962-d1.html
[16]
Nghi dinh 69/2025/ND-CP, clause 6a Article 7 (LuatVietnam) — https://luatvietnam.vn/dau-tu/nd-69-2025-nd-cp-sua-doi-bo-sung-mot-so-dieu-cua-nd-01-2014-nd-cp-ve-nha-dau-tu-nuoc-ngoai-mua-co-phan-cua-to-chuc-tin-dung-viet-nam-394391-d1.html
[17]
DNSE Senses, citing Decree 69/2025/ND-CP — https://www.dnse.com.vn/senses/tin-tuc/chinh-phu-ra-quy-dinh-moi-ngan-hang-nao-se-duoc-noi-room-ngoai-len-35009037
[18]
Bloomberg, ‘Vietcombank Says Mizuho to Buy 15% Stake for $570 Million’ (27 Sep 2011) — https://www.bloomberg.com/news/2011-09-27/vietcombank-says-mizuho-to-buy-15-stake-for-570-million-1-.html
[19]
AFP, via Yahoo Finance (27 Dec 2012) — https://sg.finance.yahoo.com/news/japan-bank-giant-buys-743-mln-stake-vietnam-062428259–finance.html
[20]
BIDV press information (bidv.com.vn), 11 Nov 2019 — https://bidv.com.vn/bidv_en/tin-tuc/thong-tin-bao-chi/keb-hana-bank-tro-thanh-co-dong-chien-luoc-nuoc-ngoai-bidv
[21]
Vietnam News, ‘VPBank completes sale of 15% equity stake to strategic investor SMBC’ — https://vietnamnews.vn/economy/1595466/vpbank-completes-sale-of-15-equity-stake-to-strategic-investor-smbc.html
[22]
CafeF, ‘Room ngoai trong VN30: Noi can kiet, cho thenh thang’ (24 Jun 2026) — https://cafef.vn/room-ngoai-trong-vn30-noi-can-kiet-cho-thenh-thang-188260623222150773.chn
[23]
VinaCapital (Michael Kokalari and Thuy Anh Nguyen), via The Investor (13 Jan 2025) — https://theinvestor.vn/vietnam-banking-sector-shows-positive-outlook-for-2025-vinacapital-d14138.html
[24]
LSEG/FTSE Russell, September 2025 country classification review — https://www.lseg.com/en/media-centre/press-releases/ftse-russell/2025/ftse-russell-country-classification-september-2025
[25]
FTSE Russell, FAQ ‘Reclassification of Vietnam from Frontier to Secondary Emerging Market Status’ v1.2 (April 2026), Q4/Q6/Q15 — https://www.lseg.com/content/dam/ftse-russell/en_us/documents/policy-documents/ftse-faq-document-vietnam-reclassification.pdf
[26]
World Bank, ‘A Turning Point for Viet Nam’s Capital Markets’ (22 Apr 2026) — https://www.worldbank.org/en/news/feature/2026/04/22/a-turning-point-for-viet-nam-s-capital-markets
[27]
Vietnam Briefing (Dezan Shira), ‘Vietnam Reclassified to Emerging Market Status by FTSE Russell’ (Oct 2025) — https://www.vietnam-briefing.com/news/vietnam-reclassified-to-emerging-market-status-by-ftse-russell.html/
[28]
World Bank, Taking Stock — Viet Nam Economic Update (March 2025) — https://www.worldbank.org/en/country/vietnam/publication/taking-stock-viet-nam-economic-update-march-2025




